Từ công cụ sáng tạo đến bài toán bản sắc, quyền tác giả và chủ quyền văn hóa số
Trí tuệ nhân tạo và văn hóa: từ công cụ sáng tạo đến bài toán bản sắc, quyền tác giả và chủ quyền văn hóa số
Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo tạo sinh, đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sáng tạo, sản xuất, lưu thông và tiếp nhận các sản phẩm văn hóa. Chỉ trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, công nghệ này đã chuyển từ vị trí một công cụ hỗ trợ xử lý dữ liệu, tìm kiếm thông tin và tự động hóa một số thao tác kỹ thuật sang khả năng trực tiếp tạo ra văn bản, hình ảnh, âm nhạc, giọng nói, video, thiết kế, kịch bản và nhiều loại nội dung có hình thức ngày càng gần với sản phẩm do con người sáng tạo. Sự thay đổi đó khiến trí tuệ nhân tạo không còn là một vấn đề riêng của ngành công nghệ mà đã trở thành một yếu tố trực tiếp tác động đến đời sống văn hóa, thị trường sáng tạo và cách thức xã hội hiểu về tác giả, tác phẩm cũng như giá trị của lao động nghệ thuật.
Đối với lĩnh vực văn hóa, trí tuệ nhân tạo tạo ra một tình thế có tính hai mặt rất rõ. Công nghệ này mở ra những khả năng lớn trong việc số hóa và khai thác các kho tư liệu, hỗ trợ nghiên cứu di sản, dịch thuật, phục dựng, phân loại hiện vật, mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng và giảm đáng kể thời gian thực hiện nhiều công đoạn kỹ thuật trong sáng tạo. Một bảo tàng có thể sử dụng trí tuệ nhân tạo để giúp người xem tìm kiếm thông tin trong hàng chục nghìn hồ sơ hiện vật. Một nhà nghiên cứu có thể sử dụng công nghệ để hỗ trợ nhận dạng văn bản cổ, phân loại hình ảnh hoặc xử lý một khối lượng dữ liệu mà trước đây cần nhiều năm lao động thủ công. Một người làm điện ảnh có thể thử nghiệm nhiều phương án hình ảnh trước khi đi vào sản xuất chính thức. Những khả năng đó thực sự có thể mở rộng năng lực sáng tạo của con người. Nhưng cũng chính công nghệ ấy làm nảy sinh những câu hỏi khó về nguồn dữ liệu, quyền tác giả, quyền của người biểu diễn, giá trị lao động nghệ thuật, tính xác thực của sản phẩm văn hóa, khả năng bảo vệ tri thức truyền thống và nguy cơ một số ngôn ngữ, cộng đồng hoặc hình thức biểu đạt bị đẩy ra ngoài vùng nhìn thấy của hệ thống số.
Bởi vậy, câu hỏi quan trọng hiện nay không còn đơn giản là người làm văn hóa có nên sử dụng trí tuệ nhân tạo hay không. Công nghệ đã bước vào đời sống sáng tạo và khó có khả năng đảo ngược xu thế đó. Vấn đề thực chất là trí tuệ nhân tạo sẽ được tích hợp vào hệ sinh thái văn hóa theo những nguyên tắc nào, ai có quyền quyết định đối với dữ liệu được sử dụng, lợi ích kinh tế được phân chia ra sao, cộng đồng nào có nguy cơ bị thiệt thòi và Nhà nước cần thiết lập giới hạn quản trị ở đâu để khuyến khích đổi mới mà không làm suy yếu các quyền văn hóa cơ bản. Chính vì thế, trí tuệ nhân tạo ngày càng cần được nhìn như một vấn đề của chính sách văn hóa chứ không đơn thuần là một giải pháp kỹ thuật.
Lịch sử văn hóa cho thấy mỗi bước tiến công nghệ lớn đều dẫn tới những thay đổi sâu sắc trong hoạt động sáng tạo. Công nghệ in đã làm biến đổi quá trình sản xuất và phổ biến sách. Nhiếp ảnh từng đặt ra câu hỏi về tương lai của hội họa. Công nghệ ghi âm làm thay đổi cách con người sáng tác và thưởng thức âm nhạc. Điện ảnh hình thành một loại hình nghệ thuật hoàn toàn mới, trong khi internet và mạng xã hội đã tái cấu trúc cách tác phẩm gặp gỡ công chúng. Trí tuệ nhân tạo nằm trong mạch phát triển đó nhưng có một điểm khác biệt quan trọng: công nghệ ngày nay không chỉ lưu giữ, sao chép hoặc truyền tải sản phẩm do con người tạo ra mà có thể trực tiếp tham gia vào việc sản xuất hình thức của nội dung. Ranh giới giữa “công cụ” và “người tham gia sáng tạo” vì thế trở nên phức tạp hơn.
Một nhà thiết kế có thể đưa ra yêu cầu bằng ngôn ngữ thông thường và nhận hàng chục phương án trong vài phút. Người làm âm nhạc có thể thử nghiệm nhiều kiểu phối khí trước khi lựa chọn hướng phát triển. Nhà làm phim có thể tạo bản phác thảo cảnh quay, xử lý hậu kỳ, hỗ trợ dịch và đồng bộ giọng nói hoặc thử nghiệm những không gian chưa cần xây dựng thật. Đối với các cơ sở văn hóa, trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ công chúng đặt câu hỏi trực tiếp về bộ sưu tập thay vì phải biết chính xác từ khóa chuyên ngành. Nhờ đó, khoảng cách giữa kho tri thức chuyên môn và người sử dụng có thể được thu hẹp. Khả năng này đặc biệt đáng chú ý đối với những cơ quan có nguồn nhân lực hạn chế nhưng đang quản lý lượng tư liệu rất lớn.
Tuy nhiên, việc công cụ trở nên dễ tiếp cận không đồng nghĩa với toàn bộ hệ sinh thái sáng tạo trở nên bình đẳng. Phía sau mỗi hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo sinh là một lượng dữ liệu rất lớn được hình thành từ văn bản, tranh, ảnh, âm thanh, phim, thiết kế và nhiều dạng nội dung khác. Chính dữ liệu này cho phép hệ thống nhận biết các quy luật về ngôn ngữ, hình thức, bố cục hoặc âm thanh để tạo ra nội dung mới. Bởi vậy, một trong những tranh luận lớn nhất hiện nay liên quan đến việc tác phẩm của nhà văn, họa sĩ, nhiếp ảnh gia, nhạc sĩ, nhà thiết kế và các chủ thể sáng tạo khác có được sử dụng để huấn luyện mô hình hay không, nếu có thì theo điều kiện nào, ai có quyền cho phép và lợi ích tạo ra từ công nghệ có được phân chia lại cho những người đã tạo nên nguồn dữ liệu ban đầu hay không.
Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật của pháp luật về quyền tác giả mà còn liên quan trực tiếp tới cấu trúc kinh tế của các ngành công nghiệp văn hóa. Nếu hàng triệu sản phẩm sáng tạo được đưa vào một hệ thống có khả năng tạo ra nội dung cạnh tranh với chính những người đã sản xuất nguồn dữ liệu đó, vấn đề phân phối giá trị trở nên rất rõ. Người sáng tạo có thể bị đặt vào một tình thế nghịch lý: tác phẩm của họ góp phần giúp công nghệ ngày càng giỏi hơn nhưng chính công nghệ ấy lại làm giảm nhu cầu thuê họ thực hiện một số loại công việc. Nếu không thiết lập được cơ chế quản trị quyền thích hợp, quá trình đổi mới công nghệ có thể tạo ra một sự chuyển dịch giá trị từ cộng đồng sáng tạo sang những chủ thể sở hữu dữ liệu, hạ tầng tính toán và nền tảng công nghệ.
Tranh luận này chưa có một câu trả lời thống nhất trên thế giới. Có quan điểm cho rằng quá trình một hệ thống trí tuệ nhân tạo học từ tác phẩm có nét tương đồng với việc con người đọc sách, xem tranh hoặc nghe nhạc để hình thành kinh nghiệm sáng tạo. Quan điểm khác cho rằng việc sao chép và xử lý hàng tỷ dữ liệu bằng máy, trên quy mô công nghiệp và phục vụ một hệ thống thương mại, khác căn bản với quá trình học của cá nhân. Chính vì chưa có sự thống nhất tuyệt đối, tính minh bạch trở thành một nguyên tắc rất quan trọng. Người sáng tạo cần có khả năng biết dữ liệu của mình được khai thác theo cách nào; doanh nghiệp công nghệ phải hiểu trách nhiệm của mình đối với nguồn dữ liệu; các tổ chức quản lý quyền cần phát triển công cụ nhận diện, cấp phép và phân chia quyền lợi phù hợp với môi trường số.
Đối với Việt Nam, vấn đề càng đáng quan tâm khi phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và sản phẩm văn hóa số đang trở thành một định hướng quan trọng. Nếu chúng ta muốn hình thành một nền kinh tế sáng tạo mạnh nhưng hệ thống quản trị quyền tác giả, dữ liệu và cấp phép không phát triển tương ứng thì người sáng tạo Việt Nam có thể rơi vào vị trí yếu trong chuỗi giá trị. Tác phẩm có khả năng được sử dụng rất rộng trên môi trường số trong khi tác giả lại khó xác định ai đang sử dụng, sử dụng vào mục đích gì và liệu có phát sinh lợi ích kinh tế hay không. Vì thế, nâng cao năng lực bảo vệ quyền trong môi trường trí tuệ nhân tạo phải được coi là một phần của chính sách phát triển công nghiệp văn hóa chứ không phải vấn đề xử lý sau khi tranh chấp xảy ra.
Một thách thức sâu hơn vấn đề bản quyền là nguy cơ công nghệ góp phần làm nghèo sự đa dạng văn hóa. Trí tuệ nhân tạo học từ những dữ liệu đã tồn tại. Những ngôn ngữ, hình ảnh, phong cách và hệ thống tri thức hiện diện với số lượng lớn trên môi trường số thường có khả năng được mô hình nhận diện và tái tạo tốt hơn. Ngược lại, những ngôn ngữ ít người sử dụng, tri thức địa phương, nghệ thuật của các cộng đồng nhỏ hoặc những loại hình văn hóa chưa được số hóa đầy đủ có nguy cơ chỉ xuất hiện với tần suất rất thấp trong dữ liệu. Điều này đồng nghĩa với việc không phải mọi nền văn hóa đều có vị thế ngang nhau trong hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo.
Trí tuệ nhân tạo vì thế không phải một tấm gương trung tính phản chiếu toàn bộ đời sống văn hóa của nhân loại. Nó phản chiếu những gì đã được đưa lên không gian số, những gì có khả năng được hệ thống thu thập và những gì thuật toán được tối ưu để nhận biết. Khi người dùng yêu cầu tạo một hình ảnh về văn hóa của một quốc gia mà dữ liệu về nền văn hóa ấy còn nghèo, hệ thống rất dễ dựa vào một số biểu tượng phổ biến nhất. Đối với Việt Nam, áo dài, nón lá, hoa sen, tre, ruộng lúa hay một số kiểu kiến trúc truyền thống đều là những biểu tượng có giá trị, nhưng văn hóa Việt Nam rõ ràng không thể được thu hẹp trong vài hình ảnh như vậy. Nếu hệ thống liên tục tái tạo những biểu tượng quen thuộc và những hình ảnh đó lại tiếp tục được đưa trở lại internet, nguy cơ hình thành một vòng lặp của sự giản lược văn hóa là có thật.
Vấn đề càng phức tạp khi nhìn tới sự đa dạng của 54 dân tộc ở Việt Nam. Mỗi cộng đồng có hệ thống ngôn ngữ, trang phục, tri thức, nghệ thuật, tập quán và ký ức lịch sử riêng. Nếu dữ liệu phục vụ các hệ thống trí tuệ nhân tạo chủ yếu phản ánh văn hóa bằng tiếng Việt phổ thông và những hình ảnh vốn đã được truyền thông nhiều, một bộ phận rất lớn sự đa dạng của văn hóa quốc gia có thể ít hiện diện trong không gian số. Khoảng cách công nghệ khi ấy có nguy cơ chuyển hóa thành khoảng cách văn hóa. Những cộng đồng càng ít được số hóa càng ít được thuật toán nhận biết; càng ít được nhận biết lại càng ít xuất hiện trong nội dung mới.
Chính vì vậy, số hóa văn hóa trong giai đoạn mới không nên chỉ được hiểu như một hoạt động lưu trữ. Nó còn liên quan tới quyền hiện diện của văn hóa trong tương lai. Khi dữ liệu trở thành nguyên liệu cho các hệ thống tìm kiếm, phân tích và tạo sinh, việc xây dựng dữ liệu chất lượng về ngôn ngữ, di sản, nghệ thuật, lịch sử và tri thức địa phương trở thành một vấn đề chiến lược. Dữ liệu phải được mô tả đúng, có nguồn gốc, có bối cảnh và có cơ chế quản lý quyền phù hợp. Nếu không, những gì ít được ghi nhận hôm nay có thể tiếp tục bị làm mờ trong những hệ thống công nghệ ngày mai.
Từ đây xuất hiện vấn đề chủ quyền văn hóa số. Khái niệm này không nên được hiểu theo nghĩa đóng cửa hoặc hạn chế giao lưu văn hóa. Bản chất của nó nằm ở khả năng một quốc gia và các cộng đồng có thể chủ động tạo lập, quản lý, mô tả và đưa dữ liệu văn hóa của mình vào môi trường số; đồng thời đủ khả năng bảo đảm rằng dữ liệu đó không bị sử dụng sai lệch, tách khỏi ngữ cảnh hoặc khai thác theo cách gây phương hại tới quyền của chủ thể văn hóa. Trong nền kinh tế truyền thống, quyền lực phân phối văn hóa tập trung nhiều ở nhà xuất bản, hãng phim, đài truyền hình hoặc hệ thống phát hành. Khi nền kinh tế nền tảng phát triển, một phần quyền lực chuyển sang mạng xã hội, công cụ tìm kiếm và các nền tảng phân phối nội dung. Trí tuệ nhân tạo đang tạo thêm một tầng trung gian mới giữa con người với tri thức.
Trong tương lai, rất nhiều người có thể không còn tìm kiếm trực tiếp một bài nghiên cứu, một trang thông tin của bảo tàng hay một cuốn sách lịch sử mà đặt câu hỏi cho hệ thống trí tuệ nhân tạo và nhận một câu trả lời tổng hợp. Nếu nguồn dữ liệu về lịch sử và văn hóa Việt Nam trên môi trường số thiếu chính xác, thiếu hệ thống hoặc nghèo nàn so với các nguồn khác, cách hệ thống mô tả Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng đáng kể từ những nguồn không phản ánh đầy đủ quan điểm khoa học và bối cảnh trong nước. Bởi vậy, đầu tư vào cơ sở dữ liệu của bảo tàng, thư viện, viện nghiên cứu, trường đại học và các cơ quan văn hóa chính là một phần của việc bảo đảm năng lực tự diễn giải văn hóa của quốc gia trong môi trường số.
Một vấn đề khác rất dễ gây nhầm lẫn là khả năng trí tuệ nhân tạo tạo ra những hình ảnh có vẻ rất thuyết phục nhưng không đồng nghĩa với tri thức khoa học. Một hệ thống có thể tạo ra hình ảnh một cung điện cổ rất đẹp, một bộ trang phục lịch sử rất hoàn chỉnh hoặc một nghi lễ có vẻ hợp lý về mặt thị giác. Nhưng đẹp và thuyết phục không có nghĩa là đúng về mặt lịch sử. Công nghệ có thể kết hợp các yếu tố kiến trúc của nhiều thời kỳ, bổ sung những chi tiết không có bằng chứng hoặc làm đồng nhất những hình thức vốn rất khác nhau. Nếu người xem không được thông báo rõ đâu là dữ liệu thực tế, đâu là giả thuyết khoa học và đâu là phần do hệ thống tạo thêm, sản phẩm công nghệ có thể vô tình trở thành nguồn phát tán thông tin sai lệch về di sản.
Vì vậy, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong bảo tàng, giáo dục và truyền thông di sản cần có yêu cầu đặc biệt về tính minh bạch. Một mô hình số dựa trên khảo cổ học phải khác với một hình ảnh minh họa mang tính tưởng tượng. Nếu có những khoảng trống trong dữ liệu, cần cho người xem biết những khoảng trống đó tồn tại thay vì để công nghệ lấp đầy bằng các chi tiết có vẻ hợp lý. Trong lĩnh vực di sản, thừa nhận sự không chắc chắn đôi khi chính là thái độ khoa học cần thiết. Sự hoàn chỉnh về hình thức không nên đánh đổi bằng việc tạo ra cảm giác chắc chắn giả tạo đối với những gì lịch sử chưa cho phép kết luận.
Bên cạnh dữ liệu và tính xác thực, trí tuệ nhân tạo cũng đang làm thay đổi giá trị của lao động sáng tạo. Một số công việc như tạo bản mẫu, chỉnh sửa hình ảnh cơ bản, dịch sơ bộ, làm phụ đề, dựng giọng, đề xuất biến thể thiết kế hoặc sản xuất nội dung ở mức đơn giản có thể được thực hiện nhanh hơn nhiều so với trước đây. Điều đó không đồng nghĩa với việc nghệ sĩ, nhà thiết kế hoặc những người làm sáng tạo sẽ biến mất, nhưng cơ cấu việc làm chắc chắn sẽ thay đổi. Những nhiệm vụ mang tính lặp lại có thể giảm, trong khi khả năng định hướng ý tưởng, đánh giá thẩm mỹ, biên tập, kiểm chứng, kết nối các tri thức và đưa ra quyết định sáng tạo sẽ trở nên quan trọng hơn.
Điều đáng quan tâm là tác động của quá trình chuyển đổi đối với lớp lao động trẻ. Trong nhiều ngành sáng tạo, một người thường bắt đầu từ những công việc tương đối đơn giản trước khi tích lũy kinh nghiệm để đảm nhận nhiệm vụ phức tạp hơn. Một người làm điện ảnh trưởng thành qua nhiều vị trí; một nhà thiết kế hình thành năng lực thông qua hàng loạt dự án nhỏ; một biên tập viên học nghề qua quá trình xử lý những nội dung cơ bản. Nếu doanh nghiệp sử dụng trí tuệ nhân tạo chủ yếu để loại bỏ toàn bộ tầng công việc khởi đầu, hệ sinh thái sáng tạo có thể gặp một nghịch lý: năng suất trước mắt tăng lên nhưng quá trình hình thành đội ngũ chuyên gia tương lai bị suy yếu. Chính sách về nhân lực do đó phải quan tâm không chỉ tới việc người lao động hiện tại có bị thay thế hay không mà còn tới con đường đào tạo nghề trong dài hạn.
Giáo dục nghệ thuật và đào tạo nhân lực văn hóa vì vậy không thể né tránh trí tuệ nhân tạo. Nhưng việc đưa công nghệ vào đào tạo cũng không nên bị giản lược thành dạy cách viết yêu cầu để hệ thống tạo nội dung. Người học phải hiểu công nghệ đang hoạt động trên nguồn dữ liệu nào, các vấn đề quyền tác giả có thể phát sinh ở đâu, cách kiểm tra thông tin, giới hạn của mô hình và những tình huống nào con người không nên giao toàn bộ quyết định cho máy. Một nghệ sĩ trong tương lai không nhất thiết phải trở thành kỹ sư công nghệ, nhưng cần đủ hiểu biết để sử dụng công cụ mà không trở thành người phụ thuộc hoàn toàn vào công cụ. Ngược lại, những người phát triển công nghệ văn hóa cũng cần hiểu đặc thù của di sản, nghệ thuật, đạo đức và quyền cộng đồng.
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo đồng thời khiến câu hỏi về giá trị con người trong sáng tạo trở nên rõ hơn. Nếu máy có thể tạo một bức tranh đẹp, một đoạn nhạc nghe thuận tai hoặc một bài viết có cấu trúc tương đối hoàn chỉnh, điều gì làm cho sáng tạo của con người vẫn có ý nghĩa? Câu trả lời không nằm ở việc phủ nhận khả năng của công nghệ mà ở việc nhìn lại bản chất của hoạt động văn hóa. Giá trị của nghệ thuật chưa bao giờ chỉ nằm ở khả năng tạo ra một hình thức. Nó gắn với trải nghiệm sống, lựa chọn cá nhân, ký ức, xung đột, bối cảnh lịch sử và mối quan hệ giữa tác phẩm với cộng đồng. Một hệ thống có thể tạo hình ảnh giống phong cách của một họa sĩ nhưng không sống cuộc đời của người họa sĩ ấy. Nó có thể tạo ra âm thanh gợi liên tưởng tới một truyền thống nhưng không thuộc về cộng đồng đã truyền dạy truyền thống đó qua nhiều thế hệ.
Điều này không có nghĩa sản phẩm do trí tuệ nhân tạo hỗ trợ không thể có giá trị thẩm mỹ. Vấn đề là phải phân biệt giá trị hình thức với quá trình văn hóa tạo nên ý nghĩa. Khi số lượng nội dung có thể được sản xuất gần như vô hạn, nguồn gốc và câu chuyện của tác phẩm thậm chí có thể trở nên quan trọng hơn. Công chúng có thể muốn biết ai đứng sau sản phẩm, tại sao họ lựa chọn cách thể hiện đó, trải nghiệm nào dẫn tới tác phẩm và trí tuệ nhân tạo đã đóng vai trò tới mức nào. Nghịch lý của thời đại mới có thể nằm ở chỗ khi máy móc làm cho việc tạo hình thức trở nên dễ dàng hơn thì tính xác thực, dấu ấn cá nhân và câu chuyện con người lại trở thành những giá trị ngày càng hiếm và vì vậy càng đáng chú ý.
Từ góc độ quản lý, không nên rơi vào hai thái cực. Nếu coi trí tuệ nhân tạo hoàn toàn là mối đe dọa và tìm cách ngăn cản việc sử dụng, lĩnh vực văn hóa có thể bỏ lỡ những công cụ rất hữu ích và người sáng tạo trong nước có nguy cơ tụt hậu. Nhưng nếu cho rằng công nghệ là tất yếu nên không cần quản trị thì những vấn đề về quyền, dữ liệu, lao động và đa dạng văn hóa có thể trở nên nghiêm trọng. Cách tiếp cận hợp lý hơn là quản trị theo mức độ rủi ro. Trí tuệ nhân tạo dùng để lập chỉ mục tài liệu thư viện không thể được nhìn giống hệ thống dùng để phục dựng một di tích. Công cụ hỗ trợ sửa lỗi ảnh khác về tính chất với việc tạo toàn bộ tác phẩm rồi gắn tên một nghệ sĩ. Hệ thống dịch một tài liệu hành chính cũng khác với hệ thống diễn giải tri thức thiêng hoặc tri thức truyền thống của một cộng đồng.
Đối với Việt Nam, điều cần thiết trong thời gian tới là hình thành một cách tiếp cận đồng bộ thay vì để từng cơ quan, từng thiết chế tự thử nghiệm. Nền tảng quan trọng nhất phải là dữ liệu văn hóa có chất lượng. Các kho tư liệu về di sản, bảo tàng, thư viện, văn học, nghệ thuật, điện ảnh, nhiếp ảnh, âm nhạc và ngôn ngữ cần được chuẩn hóa, xác định rõ nguồn gốc và điều kiện sử dụng. Không phải dữ liệu nào cũng cần mở hoàn toàn. Có dữ liệu thuộc phạm vi công cộng, có dữ liệu có bản quyền, có dữ liệu liên quan tới quyền riêng tư, có tư liệu mà cộng đồng chủ thể cần được tham vấn trước khi phổ biến. Điều quan trọng là mỗi loại phải có cơ chế quản trị rõ thay vì chỉ được đưa lên mạng và mặc nhiên coi như nguồn tài nguyên tự do.
Song song với đó, hạ tầng quyền tác giả cần được phát triển để thích ứng với môi trường mới. Cơ sở dữ liệu về tác phẩm và chủ thể quyền, công nghệ nhận dạng nội dung, cơ chế cấp phép số và phương thức theo dõi sử dụng tác phẩm sẽ ngày càng quan trọng. Nếu người sáng tạo không thể chứng minh quyền hoặc không có công cụ để cấp phép, việc bảo vệ lợi ích trong môi trường trí tuệ nhân tạo sẽ rất khó. Ngược lại, nếu cơ chế cấp phép quá phức tạp và chi phí giao dịch quá cao, hoạt động sử dụng hợp pháp cũng khó phát triển. Chính sách tốt phải vừa bảo vệ quyền vừa tạo điều kiện để quyền có thể được giao dịch minh bạch.
Đặc biệt, cần nghiên cứu nghiêm túc vấn đề tri thức truyền thống và biểu đạt văn hóa của cộng đồng. Một tác phẩm cá nhân có thể có tác giả và thời hạn bảo hộ tương đối rõ, nhưng một mẫu hoa văn, một bài dân ca, một phương thức chữa bệnh dân gian hay một nghi lễ có thể là kết quả tích lũy của nhiều thế hệ. Nếu dữ liệu này được sử dụng để huấn luyện hệ thống có khả năng tạo ra sản phẩm thương mại, câu hỏi ai có quyền quyết định và ai được hưởng lợi trở nên rất phức tạp. Không thể áp dụng hoàn toàn cách quản trị của tác phẩm cá nhân cho tri thức cộng đồng. Đây là lĩnh vực cần phối hợp giữa chính sách di sản, quyền sở hữu trí tuệ, dữ liệu và quyền văn hóa.
Các thiết chế văn hóa cũng cần xây dựng nguyên tắc minh bạch khi sử dụng trí tuệ nhân tạo. Bảo tàng, cơ quan xuất bản, truyền thông và cơ sở giáo dục nên cho công chúng biết khi một hình ảnh phục dựng, giọng nói, video hoặc nội dung có vai trò quan trọng được tạo hoặc biến đổi đáng kể bằng công nghệ. Việc công khai không nhằm hạ thấp sản phẩm mà để người tiếp nhận hiểu bản chất của thông tin. Càng trong lĩnh vực lịch sử và di sản, khả năng phân biệt tài liệu gốc với sản phẩm tái tạo càng quan trọng.
Cùng với dữ liệu tiếng Việt, cần chú ý tới dữ liệu của các ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Nếu quá trình chuyển đổi số chỉ ưu tiên những nội dung có lượng người dùng lớn, khoảng cách công nghệ có thể làm sâu thêm sự bất bình đẳng về khả năng hiện diện văn hóa. Việc ghi âm, xây dựng kho từ vựng, số hóa văn bản, ghi chép tri thức và phát triển công cụ xử lý ngôn ngữ cần được thực hiện với sự tham gia của chính cộng đồng. Mục tiêu không đơn giản là thu thập càng nhiều dữ liệu càng tốt mà là bảo đảm dữ liệu phản ánh đúng bối cảnh và cộng đồng có tiếng nói đối với cách dữ liệu của mình được sử dụng.
Đào tạo nhân lực cũng phải được nhìn như một quá trình hai chiều. Người làm văn hóa cần hiểu hơn về công nghệ, dữ liệu và thuật toán; người làm công nghệ cần hiểu hơn về văn hóa, lịch sử, đạo đức và sở hữu trí tuệ. Nếu hai nhóm làm việc trong những thế giới hoàn toàn tách biệt, sản phẩm tạo ra rất dễ hoặc tốt về công nghệ nhưng nghèo về nội dung, hoặc có nội dung giá trị nhưng không đủ khả năng vận hành trong môi trường số. Chính những nhóm liên ngành mới có khả năng thiết kế các ứng dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp với đặc thù văn hóa Việt Nam.
Bên cạnh đó, cần theo dõi thường xuyên tác động của công nghệ tới thị trường lao động sáng tạo. Không nên xây dựng chính sách chỉ từ những dự đoán chung rằng trí tuệ nhân tạo sẽ “lấy mất việc” hay ngược lại sẽ “tạo thêm nhiều việc mới”. Cần có dữ liệu cụ thể về nhóm nghề nào đang thay đổi, kỹ năng nào giảm nhu cầu, kỹ năng nào tăng, thu nhập của người lao động biến động như thế nào và người trẻ gặp khó khăn gì khi gia nhập thị trường. Chính sách đào tạo, hỗ trợ nghề nghiệp và phát triển công nghiệp văn hóa chỉ có thể điều chỉnh hợp lý khi dựa trên bằng chứng thực tế.
Điều quan trọng cuối cùng là mục tiêu của ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong văn hóa không nên được đo bằng số lượng nội dung được tạo ra. Một xã hội có thể sản xuất hàng triệu hình ảnh trong thời gian rất ngắn nhưng chưa chắc tạo ra nhiều giá trị văn hóa hơn. Văn hóa có giá trị khi con người tìm thấy trong đó ý nghĩa, ký ức, sự khác biệt và khả năng đối thoại với nhau. Công nghệ cần được đánh giá bằng việc nó có giúp nghệ sĩ sáng tạo tốt hơn, có giúp công chúng tiếp cận di sản dễ hơn, có làm cho những cộng đồng ít được nhìn thấy có tiếng nói hơn và có tạo ra hệ sinh thái kinh tế công bằng hơn hay không.
Trí tuệ nhân tạo vì vậy không phải đối thủ của văn hóa, nhưng cũng không tự nhiên trở thành đồng minh của văn hóa. Kết quả phụ thuộc vào cách dữ liệu được lựa chọn, cách quyền được phân chia, cách thuật toán được sử dụng và cách xã hội đặt ra giới hạn cho công nghệ. Nếu chỉ coi trí tuệ nhân tạo như công cụ tăng năng suất, chúng ta có thể tạo ra nhiều nội dung hơn nhưng chưa chắc bảo vệ được sự đa dạng và chiều sâu của văn hóa. Nếu quản trị tốt, ngược lại, công nghệ có thể giúp những kho tư liệu lâu nay khó tiếp cận trở nên hữu ích hơn, hỗ trợ ngôn ngữ ít người sử dụng, mở rộng công chúng cho di sản và tạo thêm không gian thử nghiệm cho nghệ sĩ.
Thách thức thực sự do đó không nằm ở việc lựa chọn giữa trí tuệ nhân tạo và con người. Câu hỏi quan trọng hơn là làm thế nào xây dựng một hệ sinh thái trong đó con người vẫn giữ quyền quyết định đối với các giá trị văn hóa, người sáng tạo được tôn trọng và được hưởng lợi công bằng, cộng đồng có quyền đối với di sản và tri thức của mình, còn công nghệ được sử dụng để mở rộng chứ không thu hẹp sự đa dạng. Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, bảo vệ văn hóa không phải ngăn công nghệ bước vào đời sống sáng tạo, mà là đưa các nguyên tắc văn hóa, đạo đức và quyền con người vào chính cách công nghệ được thiết kế và sử dụng. Khi làm được điều đó, trí tuệ nhân tạo mới thực sự trở thành phương tiện mở rộng năng lực sáng tạo của con người thay vì một cỗ máy sản xuất nội dung ngày càng nhiều nhưng ngày càng giống nhau.
Võ Kim Dung./.