Bài toán định giá tài sản trí tuệ của công nghiệp văn hóa

Bài toán định giá tài sản trí tuệ của công nghiệp văn hóa

Bài toán định giá tài sản trí tuệ của công nghiệp văn hóa

Một doanh nghiệp sản xuất truyền thống có thể dùng đất đai, nhà xưởng hoặc máy móc làm tài sản bảo đảm để vay vốn. Một doanh nghiệp sáng tạo đôi khi không có nhiều tài sản hữu hình nhưng lại sở hữu một kịch bản có tiềm năng, một nhân vật được công chúng yêu thích, một thương hiệu, bản quyền âm nhạc hoặc một trò chơi có hàng triệu người dùng. Vấn đề là hệ thống tài chính định giá những tài sản đó như thế nào.

Tại cuộc làm việc về kịch bản phát triển công nghiệp văn hóa ngày 14/7/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉ ra một số điểm nghẽn, trong đó có việc khung pháp lý về tài sản trí tuệ số, định giá và thế chấp tài sản trí tuệ chưa hoàn thiện, doanh nghiệp sáng tạo gặp khó khi tiếp cận vốn. Đây là vấn đề cốt lõi nếu Việt Nam muốn chuyển công nghiệp văn hóa từ một lĩnh vực dựa nhiều vào ngân sách và vốn tự có sang một ngành có khả năng huy động nguồn lực thị trường.

Tài sản trí tuệ có đặc điểm rất khác tài sản vật chất. Một căn nhà có thể được định giá dựa trên diện tích, vị trí và giao dịch so sánh. Giá trị của một kịch bản chưa sản xuất lại phụ thuộc vào khả năng chuyển thành phim, thị trường, đội ngũ thực hiện và tiềm năng khai thác sau đó. Một nhân vật hoạt hình có thể gần như không có giá trị ở thời điểm đầu nhưng trở thành tài sản hàng triệu đô la nếu được phát triển thành phim, trò chơi và hàng hóa.

Do đó, định giá tài sản sáng tạo không thể chỉ sử dụng một phương pháp. Có thể tiếp cận từ chi phí đã đầu tư, dòng tiền dự kiến hoặc giá trị giao dịch của những tài sản tương đồng. Nhưng trong nhiều trường hợp ở Việt Nam, dữ liệu thị trường chưa đủ để làm cơ sở so sánh. Chính thiếu dữ liệu lại làm tăng rủi ro và khiến ngân hàng thận trọng.

Đây là một vòng luẩn quẩn. Vì ít giao dịch dựa trên tài sản trí tuệ nên thiếu dữ liệu; vì thiếu dữ liệu nên khó định giá; vì khó định giá nên tổ chức tài chính không chấp nhận tài sản đó làm bảo đảm; và vì không tiếp cận được vốn, doanh nghiệp khó phát triển tài sản tới giai đoạn có thể chứng minh giá trị.

Các thảo luận về Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa trong tháng 8–9 đã đặt vấn đề đưa tài sản trí tuệ từ phạm vi bảo vệ quyền sang thị trường vốn, giao dịch và đầu tư. Báo Văn Hóa mô tả đây là bước chuyển để một kịch bản, bài hát hoặc nhân vật có khả năng trở thành “vốn”. Đây không chỉ là thay đổi kỹ thuật mà là thay đổi cách nhìn về tài sản.

Để cơ chế này hoạt động, bước đầu tiên là tài sản phải được nhận diện rõ. Ai sở hữu bản quyền? Quyền đã được chuyển nhượng một phần hay chưa? Thời hạn khai thác còn bao lâu? Có tranh chấp không? Nếu hồ sơ quyền không rõ ràng thì dù sản phẩm nổi tiếng, khả năng sử dụng tài sản trong giao dịch tài chính vẫn rất thấp.

Bước thứ hai là dữ liệu khai thác. Một tài sản trí tuệ có giá trị khi chứng minh được khả năng tạo dòng tiền. Điều đó đòi hỏi hệ thống ghi nhận doanh thu bản quyền, số lượt sử dụng, hợp đồng cấp phép, thị trường và lịch sử khai thác. Nhiều chủ thể sáng tạo Việt Nam chưa có thói quen quản trị tài sản theo cách này. Họ sở hữu quyền nhưng không có hồ sơ kinh tế đầy đủ về quyền.

Bước thứ ba là tổ chức trung gian. Không thể kỳ vọng cán bộ tín dụng ngân hàng tự đánh giá giá trị của một nhân vật game hay kịch bản điện ảnh. Cần các tổ chức định giá, chuyên gia thị trường và cơ sở dữ liệu giao dịch đủ tin cậy. Hệ sinh thái này hiện còn ở giai đoạn hình thành.

Bước thứ tư là cơ chế chia sẻ rủi ro. Sản phẩm sáng tạo có mức độ bất định cao. Ngay cả những dự án được đầu tư tốt vẫn có thể thất bại về thương mại. Do đó, nếu ngân hàng phải chịu toàn bộ rủi ro, họ sẽ tiếp tục ưu tiên tài sản hữu hình. Các quỹ bảo lãnh, quỹ phát triển công nghiệp văn hóa hoặc mô hình đồng đầu tư có thể đóng vai trò trong giai đoạn đầu.

Một vấn đề khác là không nên đồng nhất giá trị văn hóa và giá trị tài chính. Một tác phẩm có giá trị nghệ thuật lớn chưa chắc tạo dòng tiền cao; ngược lại, một sản phẩm thương mại phổ biến chưa chắc có giá trị văn hóa tương ứng. Khi định giá tài sản trí tuệ để phục vụ giao dịch kinh tế, cần xác định rõ mục đích để tránh những tranh luận không cần thiết.

Tài sản trí tuệ cũng không nên được hiểu chỉ là “bản quyền”. Giá trị lớn thường hình thành từ một hệ thống quyền. Một bộ phim có thể tạo ra quyền chiếu rạp, phát trực tuyến, chuyển thể, âm nhạc, nhân vật, sản phẩm lưu niệm và định dạng chương trình. Một thiết kế có thể được cấp phép cho nhiều nhóm hàng hóa. Nếu chỉ khai thác một quyền ban đầu, doanh nghiệp bỏ lỡ phần lớn vòng đời tài sản.

Đây chính là khác biệt giữa sản xuất sản phẩm và quản trị tài sản trí tuệ. Một doanh nghiệp chỉ làm phim sẽ tập trung vào việc hoàn thành bộ phim. Một doanh nghiệp quản trị IP sẽ đặt câu hỏi bộ phim đó có thể phát triển thành những tài sản nào tiếp theo.

Tọa đàm về quản trị tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa tháng 8/2026 tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách từ xác lập, định giá tới giao dịch và thương mại hóa. Điều này cho thấy vấn đề đang chuyển từ lý luận sang yêu cầu thiết kế cơ chế cụ thể.

Đối với Việt Nam, xây dựng thị trường tài sản trí tuệ có thể tạo ra hai thay đổi lớn. Thứ nhất, doanh nghiệp sáng tạo có thêm cơ hội tiếp cận vốn mà không hoàn toàn phụ thuộc vào bất động sản hoặc tài sản vật chất. Thứ hai, người sáng tạo có động lực quản trị quyền chuyên nghiệp hơn bởi quyền không còn chỉ dùng để chống sao chép mà trở thành nguồn lực kinh tế.

Nếu làm được điều này, công nghiệp văn hóa sẽ thay đổi về bản chất. Giá trị không chỉ nằm ở việc bán một vé xem phim, một bản nhạc hay một trò chơi, mà ở khả năng tiếp tục khai thác quyền qua nhiều sản phẩm và nhiều năm.

Vì vậy, bài toán định giá tài sản trí tuệ không phải vấn đề riêng của ngành tài chính. Nó liên quan tới luật pháp, dữ liệu, bản quyền, thị trường và năng lực quản trị của doanh nghiệp sáng tạo. Chỉ khi những mắt xích này được hình thành đồng thời, ý tưởng mới thực sự có thể trở thành tài sản và tài sản mới có thể trở thành vốn.

Võ Kim Dung./.