Những tồn tại trong việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật khi xây dựng tiêu chuẩn quốc gia
Tiêu chuẩn, quy chuẩn là công cụ quan trong việc thiết lập các yêu cầu kỹ thuật, định hướng chất lượng sản phẩm, dịch vụ và hoạt động chuyên môn của từng ngành, lĩnh vực trong hoạt động quản lý nhà nước. Thông qua tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng điều tiết, hướng dẫn và kiểm soát các hoạt động kinh tế, xã hội theo mục tiêu phát triển chung. Đối với các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật không chỉ góp phần bảo đảm chất lượng dịch vụ, an toàn cho người sử dụng mà còn liên quan trực tiếp đến bảo tồn giá trị văn hóa, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện nay được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau, bao gồm pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, pháp luật về khoa học và công nghệ, pháp luật về ngân sách nhà nước và các quy định có liên quan. Các văn bản này được ban hành với mục tiêu tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc tổ chức xây dựng, thẩm định và công bố tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai tại các bộ quản lý ngành, lĩnh vực cho thấy việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Một số quy định chưa thống nhất, chưa bao quát đầy đủ các bước công việc thực tế hoặc chưa theo kịp yêu cầu của hoạt động xây dựng tiêu chuẩn trong bối cảnh hiện nay. Những bất cập này ảnh hưởng trực tiếp đến công tác lập dự toán, tổ chức thực hiện, cũng như tiến độ và chất lượng xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Xuất phát từ thực tiễn triển khai tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tham luận này tập trung phân tích thực trạng áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, qua đó làm rõ những vướng mắc chủ yếu, nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra trong việc hoàn thiện cơ chế pháp lý để công tác xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn ngày càng phát triển hơn cả về số lượng cũng như chất lượng.
Khung pháp lý trong phạm vi hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
Các văn bản quy phạm pháp luật chung
Hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tại các bộ, ngành hiện nay được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực quản lý khác nhau. Ở cấp độ chung, pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đóng vai trò là khung pháp lý nền tảng, quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xây dựng, thẩm định và công bố tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Các văn bản quy phạm pháp luật chung có thể kể đến như: Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11 được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 70/2025/QH15; Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật…
Bên cạnh đó, hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật còn chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật về khoa học và công nghệ, ngân sách nhà nước, cũng như các quy định pháp luật có liên quan đến quản lý đầu tư công, quản lý tài chính công và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước. Các văn bản này quy định về cơ chế bố trí nguồn lực, lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí cho hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, như: Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13; Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung năm 2020…
Trong thực tiễn áp dụng, các nhóm văn bản nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cần được vận dụng đồng bộ, thống nhất nhằm bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý và khả thi trong tổ chức thực hiện.
Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
Ở cấp độ trực tiếp, hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về nội dung công việc, định mức kinh tế – kỹ thuật và cơ chế quản lý, sử dụng kinh phí.
Thứ nhất, nhóm văn bản quy định định mức kinh tế – kỹ thuật cho hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Nhóm văn bản này xác định các bước công việc cơ bản trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đồng thời quy định định mức lao động hoặc khối lượng công việc tương ứng cho từng bước. Đây là cơ sở quan trọng để các bộ, ngành lập dự toán và tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn. Các văn bản quy phạm pháp luật chính của nhóm này có Thông tư số 13/2022/TT-BKHCN ngày 15/9/2022 quy định mức kinh tế - kỹ thuật cho nhóm dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước đối với hoạt động tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và hoạt động giải thưởng chất lượng quốc gia; Thông tư số 27/2020/TT-BTC ngày 17/4/2020 hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí xây dựng tiêu chuẩn quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật
Thứ hai, nhóm văn bản quy định quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước cho hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Các quy định này tập trung hướng dẫn về nội dung chi, mức chi, trình tự lập dự toán, thanh toán và quyết toán kinh phí. Trong thực tiễn, đây là căn cứ pháp lý trực tiếp để các cơ quan quản lý tài chính thẩm tra, kiểm soát việc sử dụng ngân sách nhà nước cho các nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Ngoài ra, việc triển khai xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật còn chịu tác động của một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác, như các quy định về chế độ công tác phí, chi hội nghị, tổ chức hội thảo, cũng như các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, cụ thể gồm Thông tư số 40/2017/TT-BTC quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị; Thông tư số 03/2023/TT-BTC quy định lập dự toán, quản lý sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ; Thông tư số 02/2023/TT-BKHCN hướng dẫn một số nội dung chuyên môn phục vụ công tác xây dựng dự toán thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước; Thông tư số 42/2022/TT-BTC sửa đổi Thông tư 338/2016-BTC quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật do bộ trưởng bộ tài chính ban hành.
Yêu cầu về tính thống nhất và khả thi của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
Việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đặt ra yêu cầu cao về tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật. Do các văn bản điều chỉnh hoạt động này thuộc nhiều lĩnh vực quản lý khác nhau, nên nếu thiếu sự thống nhất về nội dung, phạm vi điều chỉnh hoặc cách hiểu và áp dụng, sẽ dễ dẫn đến lúng túng trong quá trình tổ chức thực hiện.
Tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật không chỉ thể hiện ở việc không mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định, mà còn ở việc các quy định phải bao quát đầy đủ các bước công việc thực tế trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Tính khả thi của pháp luật được thể hiện thông qua khả năng áp dụng thuận lợi trong lập dự toán, tổ chức thực hiện và quyết toán kinh phí, cũng như khả năng huy động các chủ thể tham gia xây dựng tiêu chuẩn.
Trong bối cảnh yêu cầu xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc bảo đảm tính thống nhất và khả thi của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này có ý nghĩa then chốt đối với hiệu quả quản lý nhà nước.
Thực tế triển khai áp dụng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn tại Bộ Văn hóa, Thẻ thao và Du lịch
Khái quát tình hình áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật
Trong những năm qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã triển khai xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, bao gồm văn hóa, di sản, thể thao và du lịch. Hoạt động xây dựng tiêu chuẩn được tổ chức thực hiện trên cơ sở kế hoạch hàng năm, với sự tham gia của các đơn vị quản lý chuyên ngành, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ, các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và đội ngũ chuyên gia.
Trong quá trình triển khai, việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được thực hiện xuyên suốt từ khâu lập kế hoạch, xây dựng dự toán, tổ chức thực hiện đến nghiệm thu, thanh quyết toán. Các đơn vị chủ trì xây dựng tiêu chuẩn phải đồng thời căn cứ nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau để bảo đảm tính hợp pháp của hồ sơ và kinh phí thực hiện. Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch luôn đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành. Tuy nhiên, do hệ thống văn bản điều chỉnh hoạt động này thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, phạm vi và mục tiêu điều chỉnh không hoàn toàn trùng khớp, nên trong quá trình áp dụng đã phát sinh những khó khăn nhất định, trong đó các khâu lập dự toán, tổ chức thực hiện và hoàn thiện hồ sơ tiêu chuẩn.
Thực trạng áp dụng các quy định về định mức kinh tế – kỹ thuật và quản lý, sử dụng kinh phí
Việc áp dụng các quy định về định mức kinh tế – kỹ thuật trong xây dựng tiêu chuẩn quốc gia tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Các quy định này đã bước đầu tạo khuôn khổ pháp lý để xác định các bước công việc và định mức lao động trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn, làm cơ sở cho việc lập dự toán và tổ chức thực hiện.
Tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai, một số quy định về định mức kinh tế – kỹ thuật chưa phản ánh đầy đủ các bước công việc thực tế của hoạt động xây dựng tiêu chuẩn quốc gia. Một số công đoạn quan trọng phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện, đặc biệt là các công đoạn liên quan đến hoàn thiện hồ sơ tiêu chuẩn, chưa được quy định rõ về nội dung và định mức. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc xác định khối lượng công việc, lập dự toán và thanh toán kinh phí.
Bên cạnh đó, việc áp dụng các quy định về quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước cho hoạt động xây dựng tiêu chuẩn quốc gia cũng gặp một số vướng mắc. Trong khi các văn bản hướng dẫn về quản lý, sử dụng kinh phí quy định tương đối đầy đủ về nội dung chi, trình tự, thủ tục tài chính, thì mối quan hệ giữa các quy định này với các quy định về định mức kinh tế – kỹ thuật chưa thực sự thống nhất. Thực tiễn cho thấy, có những nội dung công việc cần thiết trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn nhưng chưa được quy định đồng bộ về cả định mức kỹ thuật và nội dung chi, gây lúng túng cho các đơn vị khi lập dự toán và quyết toán kinh phí.
Ngoài ra, việc áp dụng đồng thời nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong cùng một nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn đòi hỏi các đơn vị thực hiện phải có sự rà soát, đối chiếu kỹ lưỡng để bảo đảm không trùng lặp hoặc bỏ sót nội dung. Điều này làm tăng khối lượng công việc hành chính, kéo dài thời gian chuẩn bị và triển khai nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn.
Những vướng mắc chủ yếu trong quá trình áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật
Từ thực tiễn áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có thể nhận diện một số vướng mắc chủ yếu sau:
Thứ nhất, một số quy định chưa bao quát đầy đủ các bước công việc thực tế trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn quốc gia. Trong khi quy trình xây dựng tiêu chuẩn trên thực tế bao gồm nhiều công đoạn liên hoàn, từ nghiên cứu, xây dựng dự thảo, lấy ý kiến, hoàn thiện hồ sơ đến thẩm tra, thẩm định và công bố, thì một số quy định về định mức và nội dung chi chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu của các công đoạn này. Cụ thể Thông tư số 13/2022/TT-BKHCN nêu 13 bước công việc thực hiện dịch vụ xây dựng tiêu chuẩn bắt đầu từ bước 1 là thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến bước cuối cùng, bước 13 hoàn thiện theo văn bản thẩm định và gửi trình công bố. Định mức cho công lao động cũng được quy định tương ứng với 13 bước, tuy nhiên trên thực tế triển khai, vẫn còn thiếu một số bước trong đó có những bước quan trọng như hoàn thiện báo cáo quá trình và tổ chức họp thẩm tra. Hai bước cần và quan trọng này không được đề cập tới tại Thông tư 13/2022. Trong khi báo cáo quá trình xây dựng là một sản phẩm bắt buộc và cần đầu tư thời gian hoàn thiện. Họp thẩm tra cũng là bước quan trọng các Bộ phải thực hiện để rà soát hồ sơ và hoàn thiện dự thảo tiêu chuẩn trước khi gửi Bộ Khoa học đề nghị thẩm định và công bố.
Thứ hai, sự thiếu thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh cùng một hoạt động. Các quy định về định mức kinh tế – kỹ thuật và các quy định về quản lý, sử dụng kinh phí được ban hành với mục tiêu điều chỉnh khác nhau, dẫn đến cách tiếp cận và phạm vi điều chỉnh không hoàn toàn trùng khớp. Khi áp dụng đồng thời, các đơn vị thực hiện gặp khó khăn trong việc xác định căn cứ pháp lý phù hợp cho từng nội dung công việc cụ thể. Cụ thể như Thông tư sô 13/2022/TT-BKHCN không có đề cập đến nội dung họp thẩm tra tuy nhiên trước khi Thông tư số 13/2022 được áp dụng, việc xây dựng định mức tiêu chuẩn dựa trên việc áp dụng Thông tư số 27/2020/TT-BTC ngày 17/4/2020 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí xây dựng tiêu chuẩn quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật. Thông tư số 27 có đầy đủ các nội dung chi cho việc họp thẩm tra.
Thứ ba, tác động của các vướng mắc pháp lý đến tiến độ và chất lượng xây dựng tiêu chuẩn. Việc phải xử lý các khó khăn trong áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt ở các khâu lập dự toán và hoàn thiện hồ sơ, đã ảnh hưởng nhất định đến tiến độ triển khai các dự án tiêu chuẩn. Đồng thời, những bất cập này cũng gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng huy động đội ngũ chuyên gia, cán bộ có kinh nghiệm tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc gia.
Những vướng mắc nêu trên cho thấy, mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đã được ban hành tương đối đầy đủ, song vẫn cần tiếp tục được rà soát, hoàn thiện để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và phù hợp hơn với thực tiễn triển khai tại các bộ, ngành.
Nguyễn Lan Hương