Bảo vệ tài nguyên nước và chủ động thích ứng: Từ quản lý nguồn nước đến phát triển xanh

Bảo vệ tài nguyên nước và chủ động thích ứng: Từ quản lý nguồn nước đến phát triển xanh

Bảo vệ tài nguyên nước và chủ động thích ứng: Từ quản lý nguồn nước đến phát triển xanh

Ngày 30/8/2026, các thông tin được đăng tải trên Báo Nông nghiệp và Môi trường cho thấy vấn đề tài nguyên, môi trường đang được đặt trong một cách tiếp cận ngày càng toàn diện hơn: bảo vệ nguồn nước, chủ động phòng ngừa thiên tai, phát triển nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn và khai thác hiệu quả không gian biển. Điểm chung của những câu chuyện này là yêu cầu chuyển từ khai thác, ứng phó và xử lý đơn lẻ sang quản lý tổng hợp, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước những biến động ngày càng phức tạp của tự nhiên.

Một trong những thông tin đáng chú ý là việc Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt danh mục 86 nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ. Theo Quyết định số 5427/QĐ-UBND, các nguồn nước này sẽ được xác định mốc chỉ giới trên bản đồ địa chính, đồng thời được cập nhật vào kế hoạch sử dụng đất. Thành phố cũng yêu cầu kiểm soát các hoạt động xây dựng, sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm cao trong phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước; đồng thời giao trách nhiệm cụ thể cho các sở, ngành và chính quyền cơ sở trong quản lý, bảo vệ các khu vực này.

 

(Nguồn:Internet)

Điểm đáng chú ý ở đây không chỉ nằm ở con số 86 nguồn nước, mà ở cách tiếp cận quản lý. Khi đô thị hóa diễn ra nhanh, các dòng sông, hồ, kênh rạch và nguồn nước mặt phải đồng thời chịu sức ép từ xây dựng, giao thông, sản xuất, dân cư và biến đổi sử dụng đất. Nếu không xác định rõ phạm vi bảo vệ và kiểm soát các hoạt động có nguy cơ tác động đến nguồn nước, việc xử lý ô nhiễm sau khi đã xảy ra sẽ khó khăn và tốn kém hơn rất nhiều. Việc lập hành lang bảo vệ vì vậy có thể xem là một bước chuyển từ xử lý ô nhiễm sang phòng ngừa rủi ro ngay từ không gian phát triển.

Đáng chú ý hơn, yêu cầu bảo vệ nguồn nước tại Thành phố Hồ Chí Minh được đặt trong mối quan hệ với nhiều lĩnh vực khác. Các khu vực chồng lấn với giao thông thủy, đê kè, cầu cảng, công trình thủy lợi phải được rà soát; những đoạn sông, hồ gắn với danh lam thắng cảnh và hoạt động du lịch cũng phải xác định mốc giới để bảo đảm hài hòa giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế. Điều này cho thấy quản lý tài nguyên nước ngày càng không thể thực hiện theo từng ngành riêng biệt mà cần được tích hợp với quy hoạch đất đai, đô thị, giao thông, du lịch và bảo vệ môi trường.

Từ câu chuyện của một đô thị lớn có thể nhìn rộng ra bài toán an ninh nguồn nước trên phạm vi cả nước. Nguồn nước vừa là tài nguyên phục vụ sinh hoạt và sản xuất, vừa là thành phần thiết yếu của hệ sinh thái và là yếu tố quyết định khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu. Khi thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất và cường độ khó dự đoán, yêu cầu đặt ra không chỉ là có đủ nước mà còn phải giữ được nguồn nước, bảo vệ chất lượng nước và chủ động điều tiết nước theo từng thời kỳ.

Điều này càng rõ khi báo cáo nhanh công tác phòng, chống thiên tai ngày 30/8 cho thấy mưa lớn, sạt lở tiếp tục gây thiệt hại tại một số địa phương. Riêng tại Sơn La, mưa lớn và sạt lở đất trong hai ngày 29-30/8 đã làm 3 nhà bị hư hỏng, 2 nhà phải di dời đến nơi an toàn, 2,8 ha lúa và hoa màu bị thiệt hại; 8 điểm giao thông liên xã bị sạt lở, ách tắc với tổng khối lượng đất đá hơn 20.000 m³. Cơ quan phòng chống thiên tai đồng thời cảnh báo nguy cơ mưa lớn, ngập úng, lũ quét và sạt lở đất tại nhiều khu vực.

Những diễn biến này cho thấy bảo vệ tài nguyên nước và phòng chống thiên tai thực chất có mối quan hệ rất chặt chẽ. Một lưu vực bị suy giảm khả năng điều tiết tự nhiên, một khu vực bị san lấp hoặc sử dụng đất thiếu kiểm soát có thể làm gia tăng dòng chảy mặt và nguy cơ ngập, lũ quét, sạt lở. Ngược lại, bảo vệ rừng, đất, mặt nước và hệ thống thủy lợi có thể góp phần nâng cao khả năng điều tiết nước và giảm rủi ro thiên tai. Vì vậy, đầu tư cho môi trường cũng chính là đầu tư cho khả năng chống chịu của nền kinh tế và cộng đồng.

Ở khu vực sản xuất nông nghiệp, thông tin về việc Sơn La hợp tác với Tập đoàn Quế Lâm phát triển nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn giai đoạn 2026-2030 cho thấy một hướng tiếp cận khác nhưng cùng chung mục tiêu sử dụng hiệu quả tài nguyên. Hợp tác tập trung xây dựng, phát triển nông nghiệp hữu cơ và tuần hoàn, liên kết chuỗi giá trị, hướng tới sản xuất xanh và bền vững.

Nông nghiệp hữu cơ và kinh tế tuần hoàn nếu được tổ chức phù hợp sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào đầu vào hóa học, tăng khả năng tái sử dụng phụ phẩm, cải thiện chất lượng đất và tạo ra giá trị mới từ những nguồn tài nguyên trước đây có thể bị coi là chất thải. Quan trọng hơn, mô hình này tạo ra sự kết nối giữa bảo vệ môi trường và lợi ích kinh tế của người sản xuất. Khi người nông dân có thêm thu nhập từ việc sử dụng hiệu quả phụ phẩm và sản phẩm có giá trị cao hơn, yêu cầu bảo vệ môi trường sẽ không chỉ dựa vào tuyên truyền mà trở thành một phần của động lực sản xuất.

Một thông tin khác cũng đáng chú ý là bài viết về Nghị quyết số 20-NQ/TW và định hướng hình thành các trung tâm kinh tế biển, trong đó phát triển kinh tế biển được đặt cùng với bảo vệ môi trường, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh và bảo tồn văn hóa. Cách tiếp cận này cho thấy không gian biển đang được nhìn nhận không chỉ là nơi khai thác tài nguyên mà là một không gian phát triển tổng hợp, trong đó tăng trưởng kinh tế phải đi cùng với bảo vệ hệ sinh thái và sử dụng bền vững tài nguyên biển.

Nếu đặt ba nhóm thông tin trên cạnh nhau - bảo vệ 86 nguồn nước tại Thành phố Hồ Chí Minh, ứng phó với mưa lớn và sạt lở, phát triển nông nghiệp hữu cơ và kinh tế tuần hoàn - có thể nhận thấy một điểm chung: quản lý môi trường đang chuyển dần từ tư duy quản lý từng loại tài nguyên sang quản trị tổng hợp các hệ sinh thái và không gian phát triển.

Đây cũng là hướng phù hợp với định hướng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mà Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đặt ra cho giai đoạn 2026-2030. Bộ xác định cần đổi mới phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ số; ưu tiên công nghệ phục vụ nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn, quản lý tài nguyên nước, đất đai, khoáng sản và nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai.

Thực tế cho thấy, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và áp lực phát triển ngày càng lớn, không thể chỉ trông chờ vào các công trình xử lý hay các biện pháp khắc phục sau khi sự cố xảy ra. Bảo vệ nguồn nước phải bắt đầu từ quy hoạch không gian và kiểm soát hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm; phòng chống thiên tai phải bắt đầu từ dự báo, cảnh báo và nhận diện khu vực rủi ro; còn chuyển đổi xanh trong nông nghiệp phải bắt đầu từ việc thay đổi cách sử dụng đất, nước, vật tư và phụ phẩm.

Từ những thông tin môi trường ngày 30/8 có thể thấy, chủ động đang trở thành từ khóa quan trọng trong quản lý tài nguyên và môi trường. Chủ động bảo vệ nguồn nước, chủ động phòng ngừa thiên tai, chủ động chuyển đổi mô hình sản xuất và chủ động ứng dụng khoa học công nghệ. Khi các giải pháp này được triển khai đồng bộ, môi trường không còn được xem là “chi phí phải xử lý” của quá trình phát triển mà trở thành một phần của năng lực cạnh tranh và nền tảng của tăng trưởng bền vững.

Trong giai đoạn phát triển mới, bài toán đặt ra không chỉ là khai thác được bao nhiêu tài nguyên hay tạo ra bao nhiêu giá trị kinh tế, mà quan trọng hơn là có thể duy trì nguồn lực tự nhiên đó trong bao lâu và khả năng chống chịu của hệ thống trước những biến động mới như thế nào. Quản lý tốt nguồn nước, bảo vệ hệ sinh thái, phát triển nông nghiệp tuần hoàn và nâng cao năng lực phòng chống thiên tai vì thế cần được nhìn nhận như những cấu phần thống nhất của một chiến lược phát triển xanh, an toàn và bền vững. 

Phùng Tiến tổng hợp tin bài./.